BizMaC bizmac.com

Quản lý DNS cho tên miền: thêm, sửa, xoá bản ghi

Hướng dẫn Tên miền & SSL · cập nhật 23/08/2026

Quản lý DNS cho tên miền là việc thêm, sửa và xoá các bản ghi trong vùng để tên miền trỏ đúng tới website, máy chủ email và các dịch vụ xác thực. Mỗi thao tác mất chưa tới một phút trong công cụ quản lý, phần lâu nhất là chờ thay đổi lan truyền.

Bạn cần tới việc này khi chuyển website sang máy chủ mới, khi thêm bản ghi xác minh cho Google Workspace, khi tạo một tên miền phụ như blog hoặc shop, hoặc khi email gửi đi bị đánh vào hộp thư rác vì thiếu bản ghi xác thực. Bài này làm trên khu vực khách hàng của BizMaC, nhưng các loại bản ghi và quy tắc thì giống nhau ở mọi nơi.

  1. Đăng nhập khu vực khách hàng rồi mở DNS Manager của tên miền.
  2. Đọc bảng bản ghi hiện có để biết cái nào đang giữ website và email.
  3. Thêm, sửa hoặc xoá bản ghi cần thay đổi.
  4. Chờ hết chu kỳ TTL rồi tra cứu lại bằng lệnh để xác nhận.
Ghi lại giá trị cũ trước khi sửa hoặc xoá bất kỳ bản ghi nào. Vùng DNS không có nút hoàn tác, xoá nhầm bản ghi MX là email ngừng nhận cho tới khi bạn tạo lại đúng từng ký tự.

Vùng DNS chứa những gì và ai đang giữ nó

Vùng DNS là tập hợp các bản ghi trả lời câu hỏi tên miền này ứng với địa chỉ nào. Máy giữ vùng đó gọi là nameserver. Tên miền chỉ có một bộ nameserver tại một thời điểm, và bạn chỉ sửa được bản ghi ở nơi đang giữ vùng đó, không phải ở nơi bạn mua tên miền.

Đây là chỗ nhầm phổ biến nhất. Người mua tên miền một nơi, thuê hosting một nơi, rồi vào trang tên miền tìm mãi không thấy bản ghi A. Lý do là nameserver đã trỏ sang bên hosting, nên vùng DNS thật nằm bên đó.

Nameserver đang trỏ vềSửa bản ghi ở đâuDấu hiệu nhận ra
Nhà đăng ký tên miềnKhu vực khách hàng nơi mua tên miềnThấy nút DNS Management trong trang tên miền
Bên cung cấp hostingBảng điều khiển hostingTrang tên miền không cho sửa bản ghi, chỉ cho đổi nameserver
Dịch vụ DNS bên thứ baBảng điều khiển của dịch vụ đóNameserver là tên lạ, không thuộc nơi mua tên miền lẫn nơi thuê hosting

Tra nameserver hiện tại bằng một lệnh trên máy của bạn:

nslookup -type=ns ten-mien-cua-ban.com

Mở DNS Manager cho tên miền trong khu vực khách hàng

Ba bước dưới đây đưa bạn từ trang đăng nhập tới bảng liệt kê bản ghi. Làm được một lần là nhớ đường, những lần sau vào thẳng.

1. Đăng nhập bằng email đã đăng ký

Mở trang hỗ trợ khách hàng của BizMaC, nhập email và mật khẩu bạn dùng lúc đăng ký dịch vụ. Đây không phải tài khoản hosting, cũng không phải tài khoản email, mà là tài khoản quản lý dịch vụ.

Màn hình đăng nhập khu vực khách hàng với ô nhập email và mật khẩu
Đăng nhập khu vực khách hàng bằng email đã đăng ký dịch vụ

2. Mở danh sách tên miền đang sở hữu

Ở giao diện chính, chọn menu Domains rồi bấm My Domains. Danh sách hiện tất cả tên miền gắn với tài khoản của bạn, kèm ngày hết hạn và trạng thái từng cái.

Danh sách tên miền trong mục My Domains kèm ngày hết hạn và trạng thái
Danh sách tên miền của tài khoản trong mục My Domains

3. Bấm DNS Management của tên miền cần sửa

Bấm vào tên miền để mở trang chi tiết, rồi chọn DNS Management trong khu vực Quick Actions. Bảng bản ghi hiện ra ngay dưới.

Nút DNS Management trong khu vực Quick Actions của trang tên miền
Nút DNS Management nằm trong khu vực Quick Actions

Không thấy nút này nghĩa là tên miền đang dùng nameserver bên ngoài. Bạn sửa bản ghi ở nơi giữ nameserver đó, hoặc đổi nameserver về trước rồi mới quản lý ở đây.

Đọc bảng bản ghi và ý nghĩa từng cột

Bảng bản ghi có sáu cột, mỗi dòng là một bản ghi độc lập. Hiểu sáu cột này là hiểu toàn bộ vùng DNS, vì mọi loại bản ghi đều dùng chung khung đó, chỉ khác nhau ở giá trị điền vào cột Type và Value.

Bảng liệt kê bản ghi DNS với các cột Name, Type, Value, TTL và nút sửa xoá
Bảng liệt kê từng bản ghi kèm nút sửa và xoá ở cột cuối
CộtNghĩaGiá trị hay gặp
Name hoặc HostTên bản ghi áp dụng cho phần nào của tên miền@ cho tên miền gốc, www hoặc mail cho tên miền phụ
TypeLoại bản ghi, quyết định cách hiểu cột ValueA, CNAME, MX, TXT
Value hoặc TargetGiá trị mà bản ghi trỏ tớiĐịa chỉ IP, tên máy chủ, hoặc chuỗi văn bản
TTLSố giây các máy chủ trung gian được phép lưu tạm giá trị này3600 là mặc định
PriorityThứ tự ưu tiên, chỉ dùng cho bản ghi MXSố nhỏ được thử trước
ActionNút sửa và nút xoá của từng dòngBiểu tượng cây bút và thùng rác

Ký hiệu @ ở cột Name là quy ước chỉ chính tên miền gốc, tức là địa chỉ không có gì đứng trước dấu chấm đầu tiên. Để trống ô Name ở phần lớn bảng điều khiển cũng cho kết quả tương đương.

Bốn loại bản ghi bạn sẽ dùng nhiều nhất

Vùng này hỗ trợ hàng chục loại bản ghi, nhưng bốn loại dưới đây phủ gần hết việc thường ngày. Chọn đúng loại quan trọng hơn điền đúng giá trị, vì điền sai giá trị thì dịch vụ không chạy, còn chọn sai loại thì bảng điều khiển từ chối lưu hoặc lưu vào rồi hỏng thứ khác.

LoạiTrỏ tới cái gìDùng khi nàoVí dụ giá trị
AĐịa chỉ IPv4 của máy chủMở website ở tên miền gốc hoặc tên miền phụ123.45.67.89
CNAMEMột tên miền khácTên miền phụ đi theo đích, đích đổi IP thì tự đi theoten-mien-cua-ban.com
MXTên máy chủ nhận emailĐịnh tuyến email của tên miền về đúng hệ thống mailmail.ten-mien-cua-ban.com
TXTChuỗi văn bản tự doXác thực email SPF, DKIM, DMARC và xác minh quyền sở hữuv=spf1 include:_spf.example.com ~all

Ba quy tắc gây vấp nhiều nhất khi làm việc với bốn loại này:

  • Không tạo được CNAME cho tên miền gốc @. Cần hiệu ứng tương tự ở gốc thì dùng bản ghi A và tự cập nhật IP khi đích đổi.
  • Giá trị bản ghi MX phải là tên máy chủ, không phải địa chỉ IP. Tên máy chủ đó lại cần có bản ghi A riêng trỏ về IP thật.
  • Một tên miền chỉ được có đúng một bản ghi SPF. Vừa gửi mail qua Google Workspace vừa qua hệ thống riêng thì gộp cả hai vào một chuỗi bằng nhiều include:, xem cách viết ở bài SPF record là gì.

Thêm, sửa và xoá một bản ghi

Ba thao tác này dùng chung một biểu mẫu bốn ô. Khác biệt nằm ở mức rủi ro: thêm mới gần như không hỏng gì, sửa bản ghi A của tên miền gốc thì website tắt ngay nếu IP sai, còn xoá thì không lấy lại được.

Thêm bản ghi. Bấm Add Record phía trên bảng. Chọn loại ở ô Type, điền tên ở ô Name, gõ @ nếu áp dụng cho tên miền gốc. Điền giá trị vào ô Value, để TTL ở mức mặc định 3600 nếu bạn không có lý do đổi, rồi bấm Save.

Sửa bản ghi. Bấm biểu tượng cây bút ở cột Action của dòng cần sửa. Biểu mẫu mở ra với dữ liệu hiện tại. Chép giá trị cũ ra một chỗ khác trước khi gõ đè, rồi mới sửa và bấm Save.

Xoá bản ghi. Bấm biểu tượng thùng rác rồi xác nhận. Chỉ xoá khi bạn biết chắc bản ghi đó phục vụ cái gì. Bản ghi lạ không rõ nguồn gốc thì đừng xoá vội, có thể là bản ghi xác minh của một dịch vụ đang chạy.

Chọn TTL và hạ TTL trước khi đổi IP

TTL là số giây mà các máy chủ trung gian trên đường truyền được phép giữ lại câu trả lời trước khi hỏi lại. TTL 3600 nghĩa là sau khi bạn đổi bản ghi, một số nơi vẫn trả kết quả cũ trong tối đa một giờ. Đây chính là lý do website chưa đổi ngay sau khi bấm lưu.

Giá trị TTLTương đươngDùng khi nào
3005 phútTrước và trong lúc chuyển máy chủ, để đổi xong là có hiệu lực nhanh
36001 giờMặc định, hợp với phần lớn bản ghi trong lúc chạy bình thường
8640024 giờBản ghi ổn định lâu dài, ví dụ MX của hệ thống mail cố định

Cách chuyển máy chủ không gián đoạn gồm ba nhịp. Trước ngày chuyển 24 giờ, hạ TTL của bản ghi A xuống 300. Chờ đủ 24 giờ cho các máy chủ trung gian nhả hết giá trị TTL cũ. Đến ngày chuyển thì đổi IP, khách truy cập cập nhật trong vòng 5 phút thay vì một giờ. Xong xuôi và ổn định thì nâng TTL trở lại 3600.

Bỏ qua bước hạ TTL trước không làm hỏng gì, chỉ khiến thời gian nửa vời kéo dài hơn. Trong quãng đó một phần khách vào máy chủ cũ, một phần vào máy chủ mới, nên đừng tắt máy chủ cũ ngay sau khi đổi bản ghi.

Kiểm bản ghi đã có hiệu lực chưa

Hỏi thẳng bằng dòng lệnh cho kết quả đáng tin hơn gõ vào trình duyệt, vì trình duyệt và hệ điều hành đều có bộ nhớ đệm riêng. Mở Command Prompt trên Windows hoặc Terminal trên macOS và Linux rồi chạy theo loại bản ghi.

nslookup ten-mien-cua-ban.com
nslookup -type=mx ten-mien-cua-ban.com
nslookup -type=txt ten-mien-cua-ban.com

Lệnh đầu trả về IP mà bản ghi A đang trỏ tới, lệnh thứ hai liệt kê máy chủ mail kèm số ưu tiên, lệnh thứ ba trả về các chuỗi văn bản gồm cả SPF. So kết quả với giá trị bạn vừa lưu. Khớp rồi mà trình duyệt vẫn ra trang cũ thì xoá bộ nhớ đệm trên máy theo cách flush DNS xoá cached DNS trên máy tính.

Xử lý các lỗi thường gặp khi sửa bản ghi DNS

Năm tình huống dưới đây gom gần hết các ca hỏng sau khi sửa vùng DNS. Điểm chung là dấu hiệu bên ngoài giống nhau, website hoặc email không chạy, nhưng nguyên nhân nằm ở các bản ghi khác nhau.

Đã đổi bản ghi nhưng website vẫn hiện trang cũ. Chưa hết chu kỳ TTL cũ. Chạy lệnh tra cứu ở trên, nếu lệnh đã trả IP mới mà trình duyệt vẫn ra trang cũ thì lỗi ở bộ nhớ đệm trên máy bạn chứ không phải ở tầng tra cứu.

Tạo CNAME bị báo lỗi trùng. Một tên không thể vừa có bản ghi CNAME vừa có bản ghi loại khác. Xoá các bản ghi cùng tên trước, hoặc đặt CNAME ở một tên miền phụ khác.

Email ngừng nhận sau khi đổi MX. Kiểm ba thứ theo thứ tự: tên máy chủ trong bản ghi MX có gõ đúng không, tên máy chủ đó đã có bản ghi A chưa, và bản ghi MX cũ đã xoá chưa. Còn sót bản ghi MX cũ với số ưu tiên nhỏ hơn thì thư vẫn chạy về hệ thống cũ.

Email gửi đi rơi vào hộp thư rác. Thiếu hoặc sai bản ghi SPF, hoặc tồn tại hai bản ghi SPF cùng lúc. Tra bằng lệnh tra cứu TXT ở trên, phải thấy đúng một chuỗi bắt đầu bằng v=spf1. Bổ sung thêm chữ ký DKIM theo bài DKIM là gì để email được nhận diện tốt hơn.

Không thấy nút DNS Management. Tên miền đang dùng nameserver bên ngoài, vùng DNS thật nằm ở nơi khác. Chạy lệnh tra nameserver ở đầu bài để biết vùng đang nằm đâu, rồi sửa ở đó.

Thói quen giữ vùng DNS an toàn

Chụp lại toàn bộ bảng bản ghi mỗi khi vùng DNS ở trạng thái chạy tốt, lưu ảnh cùng chỗ với thông tin dịch vụ. Vùng này không có bản sao lưu tự động, và một bản ghi TXT xác minh bị xoá nhầm có thể làm mất quyền quản trị một dịch vụ gắn với tên miền.

Sửa từng bản ghi một rồi kiểm, đừng sửa năm dòng rồi lưu một lượt. Khi có sự cố, sửa từng cái cho bạn biết chính xác thay đổi nào gây ra. Nếu bạn vừa mua tên miền và chưa trỏ về đâu cả, làm bước đổi nameserver trước theo hướng dẫn khai báo tên miền quốc tế sau khi đăng ký.

Hướng dẫn này có giúp được Anh/Chị không?

Bài khác trong Tên miền & SSL

Xem cả 19 bài
Convert chứng chỉ SSL sang PFX cho máy chủ IIS File PFX cần chứng chỉ, khoá riêng và chuỗi trung gian. Cách gom đủ ba file rồi ghép sang PFX bằng công cụ trên trình duyệt, kèm cách kiểm tra file kết quả. 7 phút đọc 249 lượt xem Cập nhật 21/08/2026 Kiểm tra SSL đã cài đúng chưa trên website Kiểm tra SSL đã cài đúng chưa gồm xem ổ khoá, hạn chứng chỉ và lỗi nội dung hỗn hợp. Bài này chỉ cách kiểm và xử các lỗi hay gặp sau khi cài SSL. 5 phút đọc 25 lượt xem Cập nhật 20/08/2026 Subdomain là gì và cách tạo tên miền phụ Subdomain là tên miền phụ đặt trước tên chính, tạo miễn phí dưới tên đã có. Bài này giải thích subdomain là gì, dùng làm gì và tạo bằng cách nào. 5 phút đọc 10 lượt xem Cập nhật 19/08/2026 Hướng dẫn xác thực chứng chỉ SSL cho tên miền Ba cách xác minh quyền sở hữu tên miền để nhà cấp phát ký chứng chỉ: hộp thư quản trị, bản ghi CNAME hoặc tệp trên hosting, kèm cách tạo CSR đúng. 11 phút đọc 404 lượt xem Cập nhật 17/08/2026 Kiểm tra thông tin tên miền bằng WHOIS WHOIS cho tra thông tin đăng ký của một tên miền như hạn, nhà đăng ký và nameserver. Bài này chỉ cách tra, đọc kết quả và vì sao vài thông tin bị ẩn. 5 phút đọc 10 lượt xem Cập nhật 17/08/2026 Gia hạn tên miền trước khi hết hạn Gia hạn tên miền là trả phí thêm năm trước ngày hết hạn để giữ tên. Bài này chỉ cách kiểm hạn, gia hạn, hậu quả khi quá hạn và cách tránh lỡ hạn. 5 phút đọc 11 lượt xem Cập nhật 16/08/2026

Làm theo vẫn chưa được?

Gửi yêu cầu hỗ trợ, kỹ thuật xem trực tiếp trên dịch vụ của Anh/Chị.

Gửi yêu cầu hỗ trợ